Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2008

Tung tăng Phố Hội





Chúng tôi đến Hội An vào một ngày Chủ nhật tháng 7, trời nắng chan hòa. Đi từ Đà Nẵng vào Hội An, đường đi còn đầy nét đồng quê: làng mạc, nhà cửa, hàng rào cây xanh... hòa trong nắng vàng, thật dịu mát.
Vào đến Hội An, ấn tượng đầu tiên đối với chúng tôi là... đi lạc. Trong đoàn có anh từng làm lái xe cho Du lịch Hòa Bình, thường chở các đoàn khách đi nhưng năm đó chúng tôi đi lạc ra đến khu dân cư mới mở, hình như là gần biển thì phải. Nguyên nhân cũng vì mấy năm không đến, nhà cửa cảnh quan đổi khác nên dẫn cả đoàn đi lạc.
Vào đến khu phố cổ, việc đầu tiên là mua vé tham quan: được tham quan 3 điểm cộng thêm được xem biểu diễn ca múa dân tộc. Việc quyết định tham quan 3 điểm nào trong vô số điểm cần tham quan cũng là một vấn đề vì trong đoàn 4 người thì đã năm sáu ý. Tách ra để đi riêng lẽ thì sợ lạc tiếp, rốt cuộc thì cũng chọn được nhà cổ họ Trần, Chùa Phúc Kiến và chùa Ông.
Các kiến trúc khi tôi đi xem sơ thì vẫn ấn tượng nhất là chùa Cầu với 2 ông khỉ và 2 ông chó ở 2 đầu cầu. Giữa cầu có am nhỏ thờ Chân Vũ Đại Đế: người ngự trị phương Bắc và có công trị thủy. Bức tượng thờ tuy nhỏ nhưng vẫn toát lên uy nghi và tinh thần của vị Đại đế hóa thân tứ chín của Ngọc Hoàng: tóc xõa dài, chân giẫm trên Quy, Xà nhị tướng, một tĩnh: Quy - trầm ổn chắc chắn, một động: Xà - linh hoạt biến hóa: cả hai đều toát lên cốt lõi tinh thần của NƯỚC: trầm ổn, lớn mạnh và linh động, biến hóa vô lường, như dòng sông Thu đang chảy qua Hội An.
Các kiến trúc khác thì khu vực chùa Phước Kiến ấn tượng nhất là việc các hình tượng, bích họa được ghép bằng các mãnh gốm sứ, tiếc là do biết quá muộn nên tôi không xem được thuyền cổ, Tam tiên và 12 bà mụ sanh, 36 Thiên tướng của Hội quán này. Chùa Ông-chùa Bà thì ấn tượng ở 4 cánh cửa gỗ to chạm trổ mai, trúc, lân, long thật tinh xảo và sống động - hai Ông (Quan Công) vả Bà (Quan Âm) cách nhau có mỗi cái vách có một cánh cổng nhỏ thông qua, không đề ý thì đố biết đó là 2 ngôi chùa khác biệt. Nhà cổ họ Trần thì lại chỉ thích khu vườn mát rượi bên ngoài vì bên trong tận dụng bán đồ mỹ nghệ lưu niệm nên không còn chổ để ghé mắt vào xem.
Đến Hội An, khi đi vòng quanh tôi chọn mua được một bộ ấm sứ bé xíu và bốn cái chung, tất cả bày trên chiếc dĩa cách điệu thành chiếc lá, nước men xanh lam bóng loáng, mượt mà. Song song tôi lại mua được một bộ tò he đất đủ 12 con giáp, tuy không tinh xảo nhưng lại chứa đầy hồn quê. Cầm từng con lên thổi, nghe kêu tu-oe, tu-oe, bỗng thèm làm con nít hết sức...
Đến trưa thì chúng tôi ghé vào quán, tất nhiên là phải thưởng thức món cao lầu trứ danh của Hội An rồi. Quán cao lầu tôi ăn ngày hôm đó không phải là quán nổi tiếng của Hội An, nhưng với người lạ mới nếm thử món ăn này lần đầu thì thấy thật ngạc nhiên và thú vị - trước đó tôi còn chưa ăn qua cả mì Quảng nữa kìa. Món cao lầu hội đủ các thứ khoái khẩu: sợi bánh mềm, dai - vụn bánh chiên dòn rụm, rau thơm lựng, ớt cay nồng, cùng với vị ngọt, thơm của miếng xá xíu... Hừm... biết tả sao giờ nhỉ? Tô cao lầu nho nhỏ, lượng vừa đủ tạo cảm giác ngon miệng, vừa còn cảm giác thòm thèm muốn ăn thêm.
Cũng tiếc là sau này mới biết phố Hội còn có bánh hoa hồng. Ngày hôm đó tôi có thấy quán bánh nhưng cứ nghĩ đó là bánh ngọt nên không để ý, chứ nếu biết thì tôi đã ăn một đĩa để còn biết hương vị của một loại đặc sản của phố Hội rồi.
Đến chiều thí chúng tôi rời phố Hội về Đà Nẵng, lòng vẫn còn luyến tiếc: tôi chưa được tham dự đêm rằm phố cổ, chưa được ngắm đèn lồng, ngắm phố cổ không dùng đèn điện, chỉ thắp đèn lồng trước cửa trong đêm rằm.
Lòng tự nhủ, nếu có dịp tôi sẽ quay về phố Hội - nếu được ngay Nguyên tiêu thì quá tuyệt, tôi sẽ về để thưởng thức bao di tích, bao cảnh vật còn bỏ sót, cũng như sẽ tìm bao món ăn ngon khác đã nghe nhưng chưa được thưởng thức: canh bầu nấu hến, khoai lang Trà Đóa và tất nhiên phải tìm lại vị béo ngậy, thơm lừng của món đặc sản cao lầu.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2008

Chè bạc đầu



Mùa Đông Mong Manh
Ca sĩ: Trio 666

Nhà tôi có đa phần ảnh hưởng của người Hoa: má tôi là người Hoa, vợ tôi cũng là người Hoa. Vì vậy đến ngày Đông Chí hàng năm, làm gì thì làm cũng phải cúng một mâm chè ỷ.

Chè ỷ được nấu từ bột nếp và đường, loáng thoáng vài sợi gừng – dễ thực hiện nhưng không phải dễ để nấu ngon. Nguyên liệu rẽ tiền, cách nấu đơn giản nên trước đây (vào khoảng 1982 – 1985) món này gần như thành món tráng miệng thường kỳ của gia đình tôi.

Tuy nhiên để nấu được nồi chè ỷ được vừa ý của Ba tôi thì cũng lắm công phu. Hồi đầu khi hai chị em tôi nấu nồi chè ỷ đầu tiên sau khi Má mất, ông chỉ ăn đúng 2 viên – còn lại thì tôi và bà chị phải cố ăn cho hết cái nồi chè vừa khô, vừa cứng, vừa cay – thật kinh dị!!!

Qua vài lần nấu thì hai chị em cũng rút được kinh nghiệm: bột nếp phải hòa với nước ấm – ba sôi, hai lạnh – thành hỗn hợp dẽo vừa tay, phải ủ thêm ít nhất 2 giờ để cho các hạt bột nếp ngấm no nước, nở căng thì mới được vo viên bằng đầu ngoán tay cái. Cho từng viên bột tròn vào nồi nước sôi sùng sục, chờ cho chín già – ba chìm, bảy nổi – thì vớt ra ngay, ngâm vào chậu nước lạnh có một ít dầu ăn để các hạt chè không bị dính thành chùm. Sau đó nấu nước đường và một ít gừng thái chỉ – đường nào cũng nấu được nhưng ngon nhất là loại đường thẻ, loại đường bán tinh – dưới quê tôi còn kêu bằng đường tán, còn lẫn cả mật đường, hòa với mùi gừng thì mới thơm thơm, cay cay, ngòn ngọt đúng vị và ăn đỡ ngán. Khi nước đường sôi già, vớt sạch bọt – cho các viên chè vào, đợi sôi thêm một lần nữa là xong món chè ỷ rồi đó.

Chè ỷ được cúng vào ngày cuối năm do có hương vị ngọt ngào, viên tròn,… đối với cộng đồng người Hoa thì món chè này tượng trưng cho sự tốt đẹp trọn vẹn, viên mãn. Nếu chè ỷ dành cho người lớn tuổi thì phải thêm mì sợi và gừng. Gừng là “khương”, gần với “khương” là “khương kiện”. Mì là “miến”, gần với “miên” là “miên trường”. Còn đối với nhà tôi chè ỷ tượng trưng cho một năm đã viên mãn – chuẩn bị sang năm mới, thêm tuổi mới.

Khi cúng Đông Chí xong, cứ theo số tuổi của đám con nít trong nhà mà múc chén chè đầu tiên cho tụi nó. Chén đầu tiên thì phải ăn cho hết – nếu không thì không được lên tuổi đâu, má vợ tôi nói thế. May mắn là qua tuổi “nữ thập tam, nam thập lục” thì chỉ ăn tượng trưng, mừng được lên tuổi. (Cứ tưởng tượng thử ăn một lần 20, 30 hay 40 viên chè ỷ thì...).

Ngày nay nhà tôi không nấu chè ỷ vào ngày Đông Chí nữa, thay vào đó là đặt mua của một gian hàng ngoài chợ. Cũng lui cui cúng kiếng vào đêm Đông Chí, cũng đếm số viên chè cho các con ăn... nhưng với tôi nó không ngon như nồi chè khô cứng ngày xưa... Bây giờ thì vừa ăn chè, vừa chúc các con lên tuổi mới, chóng lớn, học giỏi... chúc cho vợ năm mới công việc, sức khỏe cũng viên mãn như viên chè... tự chúc bản thân cho mọi việc tròn vẹn, và lại thở dài... Lại thêm một tuổi, bắt đầu già đi rồi trong khi đó con cái còn non dại, sự nghiệp chưa có gì cả... Giờ thì mới biết tại sao hồi xưa má tôi lại gọi đó là món “Chè Bạc Đầu”...

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008

Cafe sáng


Không biết từ bao giờ, cafe sáng đã trở thành thói quen của tôi.
Hồi còn nhỏ, sáng thức dậy thì tôi lại nấu nước, châm vào phin cafe mà Ba tôi uống từ sớm - uống cafe dão, nước nhì. Hồi đó thời buổi khó khăn, Ba tôi thì ghiền cafe, sáng thức sớm tự pha cafe uống - lúc ấy cafe thì ít mà bắp rang độn vào thì nhiều. Có lẽ từ những ly cafe dão đó đã dần dần hình thành thói quen uống cafe sáng.
Bây giờ thì sáng dậy sớm - hồi 2 năm trước thì đến 6h hơn mới dậy, 5h30 đón xe bus ra ngã tư Bình Phước, khoảng 6h10 thì ngồi nhâm nhi ly cafe đá, đọc báo, chờ 6h30 xe đưa rước lên công ty để bắt đầu công việc của một ngày.
Cũng không hiểu sao tôi lại thích cafe một mình. Ngồi cafe một mình đọc sách, đọc báo, còn không thì lắng nghe tiếng nhạc nhè nhẹ - tất nhiên là nhạc hợp gu rồi - thì thấy thú vị làm sao. Tôi không thích uống cafe trong khung cảnh ồn ào hoặc quán mở nhạc to quá. Lúc đó không còn thưởng thức được hương vị cafe cũng như không gian riêng của mình nữa.
Tôi thích uống cafe đá, đường ít thôi, để cafe còn đầy vị đắng, tan trên đầu lưỡi khi nhấp một ngụm đầu tiên. Đắng... đắng nhưng thú vị... Tôi không thích uống cafe pha từ cafe hoà tan - lúc đó cafe trở nên chua... chua chát lắm. Tôi cũng không thích uống cafe sữa - tôi thấy nó không phải là cafe .. của tôi! Tôi lại không quen uống đen nóng, lúc ấy hương cafe phai nhanh quá, không có cảm giác quen thuộc của cafe của tôi...
Nhưng cũng từ lâu rồi, chỉ có buổi sáng đi làm là còn ngồi uống cafe sáng, còn lại thì ít khi được dịp ngồi uống cafe một mình. Bây giờ chỉ còn mỗi buổi sáng Chủ Nhật là được ngồi uống cafe... với 2 ông con. Hì! Chắc là sau này tụi nó cũng sẽ giống bố ở cái tật uống cafe một mình đây...

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2008

Sương mai Đèo Cả


Sương Khuya
Ca sĩ: Duy Trác


Đèo Cả nằm ở địa phận ranh giới giữa Khánh Hoà và Phú Yên, trong các lần đi công tác, tôi qua lại đèo này không dưới chục lần. Tháng 07 năm 2002, trong chuyến đi hoả tốc ra Quảng Ngãi, chúng tôi đã lên Đèo Cả sớm hơn so với các lần đi khác và vì vậy đã bắt gặp một cảnh tưọng vô cùng thú vị.
Thông thường khi đi trên đường công tác ra Miền Trung, chúng tôi nghĩ đêm ở Nha Trang, sáng lên Đèo Cả thì cũng vào khoảng 10h00 hơn. Lần này do đi gấp nên khi chúng tôi bắt đầu đi lên đèo thì chỉ vào khoảng 7h30. Trời thì vừa qua cơn mưa, gió biển lồng lộng thổi vào xe, mang theo cái ẩm ướt pha chút lạnh lạnh đầu ngày, chút vị mằn mặn của biển. Mặt trời vừa lên, nắng ấm chiếu rực rở cả dãy núi xanh ngát mắt.
Qua một khúc ngoặc (cách chân đèo khoảng 3km) đường đèo chạy như đâm thẳng vào vách núi trước mặt, bất chợt nguyên dãy núi ánh lên như bạc: Các tán lá của dãy cây hoang trên núi, các dây leo... ngậm đầy những giọt sương khuya, qua góc chiếu bất ngờ của nắng sớm, phản xạ lại vào mắt người nhìn, cứ như cả dãy núi được dát đầy các hạt pha lê, lóng lánh, lấp lánh, huyền ảo.

Cảnh quan thật là ấn tượng, nhưng chỉ xuất hiện trong vòng 5 phút vì đường đi lên cao, mặt trời mọc lên cao đã làm thay đổi góc chiếu của nắng vào vách núi. Thật sự ngày hôm đó chứng kiến được chỉ có tôi và anh lái xe. Sau này, nếu có dịp đi qua Đèo Cả vào khoảng thời gian trên, các bạn thử để ý xem, biết đâu lại bắt gặp được cảnh quan thú vị giống như mình đã gặp.

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2008

Chiếc khăn gió ấm





Em yêu,
Mấy hôm nay trời Sài gòn trở lạnh, Cún con ốm, cún cha cũng ốm... làm em vất vả nhiều.
Chiều hôm nay trời lất phất mưa, anh bất chợt tìm được bài hát này, bài hát thật giống những gì anh muốn nói, anh muốn gởi đến em.
Anh không quen nói những lời ngọt ngào với em, và em chắc cũng không quen nghe những lời "ớn lạnh" như vậy. Thôi thì anh gởi cho em bài hát này như lời lòng của anh, em hãy nghe và biết được anh nghĩ về em như thế nào, em nhé!



Ở bên kia bầu trời.
Về đêm chắc đang lạnh dần.
Và em giờ đây chìm trong giấc mơ êm đềm.
Gửi mây mang vào phòng.
Vòng tay của anh nồng nàn
Nhẹ nhàng ôm cho em yêu giấc ngủ ngon.

Ở bên nay bầu trời
Thì mưa cứ rơi hững hờ
Để tim anh cồn cào
Và da diết trong nỗi nhớ
Dường như anh nhớ về em.

Gửi cho em đêm lung linh
Và tiếng sóng nơi biển lớn
Gửi em những ngôi sao trên cao
Tặng em chiếc khăn gió ấm
Để em thấy chẳng hề cô đơn
Để em thấy mình gần bên nhau
Để em vững tin vào tình yêu hai chúng ta.
Rồi cơn mưa đêm qua đi
Ngày mai lúc em thức giấc
Nắng mai sẽ hôn lên môi em
Nụ hôn của anh ấm áp
Và em hãy cười nhiều em nhé
Vì em mãi là niềm hạnh phúc.... của anh mà thôi.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2008

Nghề & Nghiệp

Chia sẽ với anh em trong phòng một chặng đường đã qua.

Thông thường khi giới thiệu để làm quen, chúng ta hay nhắc đến tên tuổi và nghề nghiệp. Ừ, thì thường là như vậy, nhưng chúng ta nào có để ý đến "nghề" là gì và "nghiệp" là gì đâu, phải không?
Chưa tin à? Thì thôi, tạm lấy lý lịch trích ngang của anh để làm dẫn chứng vậy:
Họ Và Tên:.............................................
Tên thường gọi:........ Bí danh:...................
Ngày tháng năm sinh:......., nơi sinh: ..........
Nguyên quán:.........................................
Trình độ văn hoá: 12/12
Trình độ chuyên môn: Đại Học
Chuyên môn: Kỹ Sư Công nghệ Hoá Học & Thực phẩm.
Nghề nghiệp: Trưởng phòng Kinh Doanh - Nghiệp vụ.
...............

Đấy, thấy mâu thuẩn chưa? Vẫn chưa nhận ra à? Thì đấy: anh được đào tạo "nghề" là kỹ thuật, nhưng công việc hiện tại ("nghiệp") lại làm kinh doanh đó thôi!

Nghĩ lại thì cũng lạ, nghề truyền thống gia đình của anh là nằm trong 3 ngành: ngân hàng - kế toán - kỹ thuật. Do vậy khi đi học, nhà của anh cũng chỉ quanh quẩn ở 3 nghề này. Anh thì ham thích kỹ thuật - dân chuyên Lý mà, theo nghề Hoá là do đi theo chị Hai và anh Năm. Hồi xưa anh sợ (có thể nói là ghét - và giờ thì nghiệm ra "ghét của nào, trời trao của ấy") việc kinh doanh buôn bán - anh sợ tính toán chi ly từng đồng từng cắc, rồi sợ bán đắt, bán ế, nợ vốn, quỵt tiền... Do vậy khi thi đại học anh chọn Bách Khoa chứ không chọn Kinh Tế dù trong thời điểm đó với đối tượng được xếp là 11 thì thi Đại Học Bách Khoa rất khó có cơ may đậu nổi.
Khi ra trường anh về đây làm việc thì cũng chỉ là Kỹ Sư Hoá. Thế nhưng xui khiến làm sao anh đam mê vi tính, nên vọc vạch vẽ vời,. Thế là lại bị đưa qua thiết kế đồ hoạ - rồi từ đó anh có cơ hội tiếp xúc, làm việc nhiều với khách hàng. Có duyên ăn nói, cộng với việc am hiểu công nghệ của công ty, thêm vào một vài yếu tố thiên thời địa lợi đã giúp công ty ký được hợp đồng với một số khách hàng quan trọng, làm cơ sở cho sự phát triển của công ty. Chính vì vậy anh lại được chuyển sang phòng Kinh doanh tổng hợp.
Với một ít kiến thức công nghệ, thiết bị - cộng thêm một chút khéo léo trong việc cân đối điều động sản xuất, từ từ anh nắm cả 2 mảng Kinh doanh và Kế Hoạch, rồi được bổ nhiệm làm trưởng phòng ở tuổi 33. Tuy nhiên lúc này mới thực sự bộc lộ điểm yếu của anh: non tay về quản lý - bao biện trong công việc và đặc biệt là quá tin và thương người. Bắt đầu tìm cách bù đắp vào thì thời gian đó công ty lại phát triển mạnh mẽ, anh thường xuyên đi tỉnh thành, đi ra Bắc... thành ra muốn học cũng không học được. Cũng trong thời gian này anh có gia đình riêng của mình, có tổ ấm riêng của 2 vợ chồng và một thằng con, bao nhiêu lo toan thì dồn vào lo cho gia đình. Sau nữa thì Công ty lại dọn ra Bình Dương, đi làm về đến SG thì đã 6 - 7 giờ tối, anh lại thêm một nhóc nữa, quỹ thời gian ngày càng hẹp đi, cơ hội học thêm lại càng bớt dần. Hơn nữa, tuổi dần đã lớn, trí lực cũng sút giảm nhiều, làm anh lại càng ngại học thêm. Mấy lần định thi Cao học nhưng lại huỷ vì không "tiêu" nổi món Toán Cao Cấp và không qua được Ngoại ngữ.

Người xưa từng có câu (ý nghĩa hơi lẩm cẩm một chút) "Gái sợ chọn lộn chồng, trai sợ chọn lộn nghề". Đôi lúc vẫn tự nhủ "Biết thế hồi đó thi quách vào kinh tế cho xong", nhưng chắc gì học Kinh tế mà anh có được công việc và sự nghiệp như hiện nay. Có tiếc nuối là tiếc khoảng thời gian đầu khi mới chuyển sang kinh doanh, anh lại lười đi học bổ túc văn bằng - lúc đó chưa vợ, chưa con, anh ham chơi lắm... Do vậy hiện nay các em đang làm trong phòng Kinh Doanh với anh, đứa thì học QTKD, đứa thì học Ngoại thương, đứa thì học Marketting... về chuyên môn thì tương đối đúng nghề hơn anh nhiều, tuy nhiên hiện tụi em còn đang trẻ, nếu được thì cứ tích luỹ thêm kiến thức khi có thể, đừng để rồi sau này lại hối tiếc như anh.

Anh thì bây giờ vẫn yêu nghề kỹ thuật lắm, nhưng nghiệp Kinh Doanh đã theo anh 12 năm nay - nhiều hơn gấp đôi thời gian làm kỹ thuật - do vậy thật khó bỏ. Nếu có bỏ thì hiện tại anh cũng không còn thời gian để làm lại từ đầu, thôi thì đành cởi hổ vậy...
Vậy thì rốt cuộc định nghĩa với tụi em "nghề" và "nghiệp" như thế nào nhỉ? Thôi, cho anh nói gọn lại: "Nghề" là do mình chọn để học - còn "Nghiệp" là tự nó chọn mình rồi gắn kết với mình đến hết đời.

Non nước Ninh Bình



Ninh Bình, vùng đất nhiều di tích lịch sử, vùng đất của Cờ Lau, của Hoàng hậu hai triều... Trong các chuyến đi công tác, tôi thường xuôi ngược trên đường Hà Nội - Thanh Hoá, và vì vậy không ít lần phải đi qua Ninh Bình.
Trước đây tôi từng xem các tranh thuỷ mặc, cứ cho rằng sơn thuỷ trong tranh chỉ là sự tưởng tượng của con người. Cho đến khi tôi tận mắt nhìn thấy các dãi núi trùng trùng điệp điệp của vùng đá vôi Ninh Bình.
Lãng đãng mây bay, núi xa, núi gần mờ mờ, hiện hiện. Các quả núi xanh lục thẫm, chàm chàm cứ tròn tròn như bát úp, lượn lờ hằn lên nền trời xanh xám xa xa như nét vẽ mểm mại trên nền lụa. Núi non kết hợp với đồng lúa đương thì, xanh mướt mắt, thỉnh thoảng một dòng sông lượn quanh. Đúng nghĩa là như bức tranh thuỷ mặc, không biết làm sao để diễn tả cho hết.
Nhưng một điều rất đau lòng là việc khai thác đá vôi cho các nhà máy xi măng đã bôi bẩn đi bức tranh tuyệt vời ấy. Giữa cảnh núi non trùng điệp, ẩn hiện trong mây lại xuất hiện một mảng sườn núi bị khai tác loang lỗ. Màu đá hoà đất nâu nâu, đỏ đỏ xé toạc nham nhở trên nền núi mờ xanh - cứ như vết loét loang máu trên cánh tay trần của một cô gái đẹp. Thật đau lòng...
Tôi cố gắng quên đi, "giả vờ" như không thấy, nhưng nó cứ lồ lộ, đập, xoáy vào mắt, bắt buộc phải nhìn thấy. Quay bên này thì cũng thế, bên kia thì cũng thế. Sao chúng ta khai thác vô tội vạ đến thế nhỉ? Sao không khai thác ở mặt sau, sườn núi không quay ra đường ấy để "xấu che - tốt khoe"? Hay tại sao không tập trung khai thác ở một khu nào đó thôi, còn lại thì để cảnh quan thiên nhiên, để làm du lịch chứ nhỉ. Hay... (tôi tự nghĩ), định thực hiện phương châm "Xấu đều ở các nơi thì đâu đâu cũng là đẹp"?
Thực chán cho ngành DL ở VN - chán cho cách bảo tồn di sản, cảnh quan. Cứ như thế này, chẳng mấy chốc đi ngang qua Ninh Bình, tôi lại phải che mắt vì xốn xang, vì xấu hổ. Thực buồn cho vùng Cố đô - buồn cho mảnh đất của người đẹp Dương Vân Nga...